Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013

Học sinh chán Sử là do người lớn

Học sinh chán Sử là do người lớn

Lớp trẻ chán ôn Sử chủ yếu là do người lớn, trong đó có những nhà khoa học lịch sử, nhưng trước hết là cơ quan quản lý chức năng về ngành Sử, GS.NGND Phan Huy Lê nói.


Học sinh chán Sử là do người lớn
Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê.

GS.NGND Phan Huy Lê nói: Chúng ta đã vượt qua ngưỡng thu nhập thấp để trở thành nước có thu nhập trung bình từ 2008. Đây là thời kỳ chúng ta phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

Trong bối cảnh như vậy mà không trang bị cho công dân hiểu biết lịch sử, niềm tự tin ở đất nước và dân tộc mình, không có một bản lĩnh của con người Việt Nam thì hội nhập kiểu gì đây?

Có những nền văn minh, nền văn hóa để lại các công trình kỳ vĩ. Tiếp xúc với các nền văn hóa đó, nếu bạn trẻ không được trang bị một vốn kiến thức cần có về lịch sử nước nhà, các em dễ rơi vào trạng thái mặc cảm, tự ti. Từ chỗ tự ti tới thiếu bản lĩnh.

Điều này rất nguy hiểm với mỗi cá nhân vì nó sẽ làm mất định hướng cho cả cuộc đời. Cho nên, chúng ta phải giúp lớp trẻ ra đời hội nhập có được niềm tự tin chính đáng, thấy được cái hay, cái đẹp nhưng cũng thấy được các mặt hạn chế của đất nước, trên cơ sở đó đặt ra trách nhiệm của thế hệ trẻ phải đóng góp xây dựng đất nước thế nào, bảo vệ đất nước trong bối cảnh mới thế nào.

Niềm tự tin đó được tạo lập bởi sự góp phần của nhiều môn học trong nhà trường phổ thông, nhưng môn Sử là một trong những môn cơ bản nhất.

Tuy nhiên, môn Sử hiện nay lại bị học sinh nói chung cũng như nhiều giáo viên xem là môn phụ?

Từ nhiều năm nay, dư luận rất lo lắng về chất lượng dạy và học môn Sử trong trường phổ thông. Nhưng mọi bàn luận mới chỉ dừng ở mức chung chung, cảm tính.

Theo tôi, đã đến lúc chúng ta phải đặt lên bàn các cơ quan có trách nhiệm vấn đề nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan thực trạng dạy và học Sử hiện nay.

Không phải là không có những người vẫn cố tình bào chữa, cho rằng việc dạy và học môn Sử vẫn đạt được nhiều tiến bộ.

Tiến thì có thể có tiến, nhưng những học sinh thích môn Sử vẫn là thiểu số. Số coi môn Sử là môn học thuộc lòng, của trí nhớ để từ đó thờ ơ với nó vẫn là phổ biến.

Điều đó không chỉ thể hiện trong kết quả các kỳ thi chính thức do ngành GD&ĐT tổ chức mà còn thể hiện trong những cuộc thi ngoài xã hội.

Chẳng hạn, trong những games show trên truyền hình, có những câu hỏi rất sơ đẳng, rất cơ bản về lịch sử và văn hóa Việt Nam nhưng thí sinh không trả lời được.

Thực tế trên là kết quả của một hệ thống các sai lầm, trong đó cơ bản nhất là sự nhận thức về vị thế của môn Sử trong giáo dục phổ thông. Vị thế đó như thế nào? Chúng ta chưa rõ.
Chúng ta chỉ nhìn thấy môn Sử bị đối xử như là môn phụ, thi cũng được, không thi cũng được. Năm nào không thi thì bị nhiều nơi dồn kiến thức cả năm thành một học kỳ cho các em học.


Học sinh chán Sử là do người lớn
Lễ tuyên dương và trao thưởng cho 211 em đoạt giải học sinh giỏi môn lịch Sử cấp quốc gia được tổ chức ngày 14/4/2012 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. 

Sử cho trẻ con không có nghĩa là tóm tắt sử người lớn 

Theo nhiều học sinh, không chỉ vì cơ chế thi cử mà các em thờ ơ với môn Sử mà cái chính là vì môn này quá khó…

Vấn đề ở chỗ chúng ta chưa biết dạy cho hấp dẫn. Sử học rất đa dạng, nội dung rất phong phú. Nhưng cái khó của chúng ta là chưa trả lời được câu hỏi này một cách khoa học: Dạy Sử ở phổ thông là nhằm vào cái gì? Trả lời được câu hỏi đó rồi thì ta mới tìm ra được nội dung vừa hứng thú vừa cần thiết cho xã hội.

Dạy ở phổ thông hiện nay gần như là tóm tắt lịch sử của người lớn và bắt trẻ con phải học, các em chán nản là phải thôi.

Sử học thì mênh mông và liên tục cập nhật. Dạy cái gì? Dạy để làm gì? Dĩ nhiên không phải là dạy tất cả các sự kiện lịch sử. Những cái đó các em có thể tra cứu. Với thời đại internet bây giờ, tìm trên Google có đủ hết cả.

Cái quan trọng là dạy Sử không phải chỉ dạy các chứng cớ lịch sử mà là khắc vào tình cảm, trong tâm khảm các em niềm yêu thích lịch sử của đất nước mình, dân tộc mình, niềm tự tin, sự hiểu biết những giá trị tiêu biểu hình thành nên tính cách, bản lĩnh của con người Việt Nam. Và các em có trách nhiệm kế thừa và phát huy tất cả những cái đó.

Cái mà tôi đặc biệt quan tâm là phương pháp dạy Sử. Phải làm sao để học sinh tự nguyện, say mê và phải kích thích được trí thông minh, sáng tạo của các em.

Phải đối xử với các em với tư cách là chủ thể nhận thức về Sử một cách say sưa và chủ động chứ không phải là áp đặt.

Lễ tuyên dương học sinh giỏi quốc gia môn Sử được tổ chức cuối tuần qua tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám là lễ vinh danh đầu tiên ở quy mô quốc gia những em học giỏi và yêu thích môn Sử. Phải chăng đây là sự kiện đánh dấu bước ngoặt về nhận thức của xã hội đối với môn Sử?
Truyền thống quý báu của người Việt Nam là yêu lịch sử. Nhưng tại sao lớp trẻ của chúng ta không yêu Sử? Rõ ràng không phải tự môn Sử, tuyệt nhiên càng không phải là lỗi của các em học sinh.

Lỗi chính là ở người lớn, trong đó có cả lỗi từ các nhà khoa học lịch sử, nhưng trước hết lỗi là ở các cơ quan chức năng quản lý ngành sử, quản lý việc dạy và học Sử trong nhà trường.

Làm thế nào để thu hút sự quan tâm của xã hội vào sử, khích lệ học sinh tìm đến môn Sử, yêu mến môn Sử là trăn trở của chúng tôi, những nhà nghiên cứu lịch sử.

Quỹ Phát triển Sử học Việt Nam ra đời với một trong những hoạt động vinh danh học sinh giỏi Sử là một công cụ giúp chúng tôi có điều kiện khuyến khích, cổ vũ tinh thần học Sử của các em học sinh.

Tất nhiên, tôi không bao giờ có ảo tưởng cho rằng chỉ bằng hình thức vinh danh nào đó mà thay đổi được căn bản và toàn bộ chất lượng giáo dục môn Sử ở nhà trường phổ thông hiện nay.

Hai điều kiện

Theo giáo sư, đâu là giải pháp thay đổi căn bản và toàn bộ chất lượng giáo dục môn Sử ở nhà trường phổ thông?

Muốn giải quyết vấn đề chất lượng dạy và học sử cần phải có hai điều kiện. Một là phải có giải pháp toàn bộ với cả hệ thống giáo dục phổ thông. Như chúng ta đã biết, Đại hội Đảng lần thứ XI vừa qua đưa ra yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT.

Hiện nay, Bộ GD&ĐT và các cơ quan chức năng đang nghiên cứu để đưa ra một kế hoạch có thể nói là thực chất là cải cách GD&ĐT. Trong cải cách giáo dục đó dĩ nhiên là cả môn Sử.

Hai là với môn Sử cũng phải giải quyết một cách toàn bộ và có hệ thống. Từ nhận thức về vị thế của môn Sử, yêu cầu của môn Sử ở phổ thông là cái gì, từ đó mới đi vào xây dựng chương trình, biên soạn SGK, rồi đào tạo giáo viên Sử, phương pháp dạy Sử.

Tôi rất mừng vì vừa rồi Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã ký với Bộ GD&ĐT một bản ghi nhớ trong đó xác định trách nhiệm của hai bên là cùng nhau nghiên cứu hết sức có trách nhiệm tìm cho ra nguyên nhân sa sút của môn Sử hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp, giải pháp toàn bộ để khắc phục tình trạng này.

Tất nhiên, con đường đó không thể một hai năm mà thay đổi được. Nhưng phải tiến hành ngay lộ trình này, không thể chậm trễ.

Tôi rất tin, nếu có sự quan tâm của các cơ quan chức năng quản lý và được sự tham gia của giới sử học, của thầy giáo, cô giáo, của giới chuyên gia rất tâm huyết với môn Sử và sự quan tâm của xã hội thì không có lý do gì chúng ta không khắc phục được tình trạng dạy học Sử như thế này.

Chúng ta sẽ chấn hưng môn Sử, đưa môn Sử về đúng vị trí, chức năng của nó, nhất là trong bối cảnh hiện nay của đất nước.

Cảm ơn giáo sư.

Bản thân tôi lúc đầu cũng không định lập nghiệp bằng Sử. Tôi nghĩ mình có sở trường về Toán, Lý. Sau khi học phổ thông, tôi học dự bị đại học, lúc đó, cơ sở đào tạo đặt ở Thanh Hóa.

Từ Hà Tĩnh ra Thanh Hóa đi bộ mất 7 ngày đêm, khi tôi ra đến nơi chậm mất 3 ngày, môn Toán, Lý hết chỗ. Số học sinh đến chậm đều được nhà trường cho học Văn, Sử. Nhưng học Sử rồi thì tôi nhận thấy đó là một môn học rất hấp dẫn.

Thật ra, môn nào cũng có vị trí của nó trong xã hội. Vấn đề là mình nhận thức được ý nghĩa của nó, vai trò của nó trong cuộc sống hiện nay như thế nào.
Đến nay, nếu cho tôi chọn lại từ đầu, tôi dứt khoát chọn môn Sử, không phải vì mình nhỡ đường mà bởi mình tìm thấy trong đó sự hứng thú rất lớn là được tìm hiểu về lịch sử, về văn hoá đất nước, về lịch sử các nền văn minh thế giới. Từ quá khứ mình hiểu thêm hiện tại, có niềm tin ở tương lai -GS.NGND Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Theo Quý Hiên
Tiền Phong

Mạn đàm về cách dạy lịch sử

Mạn đàm về cách dạy lịch sử


Cách dạy lịch sử trong trường phổ thông vốn lâu nay đã bị chỉ trích quá nhiều. Tồn tại là nặng về kiến thức, số liệu, trận đánh, quá nhiều mốc ngày tháng đòi hỏi "thuộc lòng” khiến nhiều học sinh đâm ra sợ môn học này.


Nói đúng hơn là một bộ phận học sinh đã quay lưng lại với môn học khá quan trọng. Điển hình, nhiều học sinh đã không nhớ nổi sự kiện "ngày 30/4” hào hùng của dân tộc đã diễn ra cách đây bao nhiêu năm, mang tầm mức lịch sử quan trọng thế nào? 
Mạn đàm về cách dạy lịch sử
Dạy sử - cần gắn kiến thức với thực tế.
Niềm tự hào dân tộc phải gắn với tận tường lịch sử
Nếu ai đã từng về Làng Sen quê Bác, hay đến Ngã ba Đồng Lộc, nghĩa trang Trường Sơn, Bảo tàng lịch sử Hồ Chí Minh, chắc đều khó quên được cảnh hàng đoàn người tham quan đứng lặng, mắt đỏ hoe khi nghe lời giới thiệu truyền cảm của các hướng dẫn viên về những mốc son, sự kiện lịch sử. Niềm tự hào về lịch sử chói lọi của dân tộc, về sự hy sinh cao cả của những người đã ngã xuống cho quê hương, có lẽ không bao giờ xúc cảm hơn khi được tận mắt ghi nhận những chứng tích lịch sử. Xin nhân kỷ niệm lần thứ 37 của Đại thắng Mùa xuân năm 1975 hào hùng để nói về niềm yêu sử trong giới trẻ.
Báo động đỏ mà các giáo sư, các nhà nghiên cứu sử học đã cảnh báo chính là sự quay lưng của giới trẻ đối với lịch sử nước nhà, với niềm tự hào, tự tôn của dân tộc. Tại nhiều nước, môn lịch sử bao giờ cũng được coi là môn học chính, rất quan trọng, thì ở nước ta, môn học này bị xếp vào yếu tố dự phòng. Chỉ vài năm trở lại đây, người ta mới đưa môn sử quay trở lại danh sách các môn thi tốt nghiệp THPT, nhưng cơ bản vẫn chưa chính thức là môn bắt buộc như văn và toán. Giáo sư sử học Phan Huy Lê đã không khỏi lo lắng bởi học sinh hiện nay không biết lịch sử nước nhà "là một điều nguy hại”. Không nguy hại sao được khi "dốt sử”, các em sẽ khó dấy nên được niềm tự hào, tinh thần thượng võ dân tộc. Bởi đơn giản là, dù có muốn tự hào, muốn thượng võ thì cũng phải hiểu cha ông ta đã từng thượng võ ra sao, niềm tự hào dân tộc phải được biểu hiện qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước như thế nào. Giả sử, những học sinh đó được một người ngoại quốc hỏi: "Tôi rất muốn biết niềm tự hào dân tộc của nước các bạn thể hiện qua những mốc son lịch sử chói lọi nào”? Thì có lẽ, những cái lắc đầu hay cười trừ lấp liếm sự thiếu hụt kiến thức sẽ làm niềm tự hào ấy bị phai mờ đi nhiều lắm!
Một sinh viên khoa Lịch sử tại trường ĐH KHXH&NV TP.HCM đã thổ lộ, niềm yêu thích lịch sử của em đã có được khi em cùng tập thể lớp đi tham quan Bảo tàng lịch sử Hồ Chí Minh. Hình ảnh con tàu Đô đốc Latouche Tréville, rồi hình ảnh chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành gày gò khi ấy đã ăn sâu vào tiềm thức, tâm trí em, không thể quên được. Sinh viên này cho biết, học lịch sử rất hấp dẫn, lôi cuốn nhưng cũng đầy cam go. Muốn học giỏi, phải say mê. Em may mắn đã được tham quan nhiều địa danh lịch sử. Nhưng không phải chỉ đi cho biết, mà đến địa danh nào, nhìn từng chiếc xe tăng, kỷ vật của người lính giải phóng, sơ đồ, sa bàn, em đều tự gán cho mỗi hình ảnh ấy một sự kiện ngày tháng, mỗi diễn biến lịch sử. Đó là cách ghi nhớ thủ công nhưng đầy tính khoa học.
Ngày kỷ niệm lịch sử phải dấy nên sự thiêng liêng
Câu chuyện trên cũng chỉ đơn thuần là một cách học, cách tự say mê, tìm tòi về môn sử. Nhưng cách tự đam mê và tự tìm ra cho riêng mình bí quyết ấy không nhiều. Tại các trường phổ thông, đôi khi người ta đã xem nhẹ môn sử, coi đó là môn học phụ. Giáo viên dạy hết trách nhiệm, học trò trả bài, đủ điểm là quên. Đó là sự thật đau lòng. Công bằng mà nói, nhiều giáo viên cũng rất tâm huyết, sáng tạo nhiều cách dạy, cách học hấp dẫn, nhưng với một "khung” thời lượng giảng dạy hạn hẹp, với một giáo án vốn đã cứng nhắc khô khan, thì dẫu có muốn thay đổi cũng chỉ như đá ném ao bèo.
Vậy vấn đề mấu chốt là gì? Nếu quy về cho giáo trình khô cứng, nặng nề kiến thức, trùng lặp, chưa có tính xâu chuỗi thì cũng đúng, nhưng chưa phải là tất cả. Nên nhớ, để tạo niềm yêu thích bất cứ môn học nào đó, cần phải tạo môi trường thân thiện, cách truyền thụ của giáo viên hấp dẫn, khơi dậy đam mê, cách học phải gắn kiến thức với thực tế, phải được trực quan nhìn nhận. Chứ không nhất thiết có giáo trình hay là học sinh đã thành tài. Điều thiếu nhất của các trường phổ thông đang dạy sử hiện nay là chưa gắn kết được kiến thức với thực tế, chưa tạo các buổi tham quan những địa danh lịch sử một cách liên tục, đồng nhất. Học sinh chỉ biết lịch sử qua sách vở, phải học "chay”. Và rồi rất dễ lãng quên nếu không được tác động trực tiếp đến bộ nhớ bằng hình ảnh của những chuyến tham quan, hoặc qua hình ảnh, phim tư liệu. Cần lưu ý, ở thời buổi phát triển mạnh về internet hiện nay, nếu nặng về kiến thức thì chỉ cần một máy tính nối mạng là đủ. Vì thế, học lịch sử phải từ sự kiện gắn với chứng tích lịch sử.

Và xin đừng để những dịp kỷ niệm lịch sử quan trọng chỉ mang tính lễ hội, hãy làm sống lại trong các em những quá khứ hào hùng đáng tự hào.
 
Theo Anh Thắng
Đại Đoàn Kết

Sau năm 2015: Học sinh sẽ hết “chán” học lịch sử?

Sau năm 2015: Học sinh sẽ hết “chán” học lịch sử?


(Dân trí) - Bộ GD-ĐT vừa chính thức đưa ra thông báo kết quả tổ chức hội thảo khoa học quốc gia về dạy học lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam. Theo đó, định hướng cơ bản của SGK lịch sử sau năm 2015 là phát triển năng lực người học.


Bên cạnh đó, đảm bảo tính hài hòa, cân đối giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghề nghiệp; cấu trúc, nội dung chương trình và sách giáo khoa (SGK) đảm bảo tính chỉnh thể, linh hoạt, thống nhất. Với việc định hướng thay đổi SGK và cách dạy học, giới chuyên môn hi vọng học sinh (HS) sẽ hết “chán” học lịch sử.
Giải mã hiện tượng “chán” học sử
Theo thông báo của Bộ GD-ĐT, hội thảo này đã tập hợp được 99 báo cáo gồm phát biểu khai mạc của lãnh đạo Bộ GD-ĐT, báo cáo đề dẫn và các báo cáo tham luận của các đơn vị, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu lịch sử, các cán bộ quản lý, giảng viên và giáo viên (GV).
Các ý kiến đều cho rằng, nội dung những phần đồng tâm của chương trình chưa thể hiện rõ về mức độ khác nhau, yêu cầu cần đạt giữa các cấp, lớp khác nhau. Cấu trúc chương trình chưa thật cân đối giữa nội dung giáo dục của các cấp học; giữa lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới; giữa các nội dung về chính trị với kinh tế, xã hội, văn hóa; giữa lịch sử cổ trung với lịch sử hiện đại…
Nội dung SGK nặng về lịch sử chiến tranh chống xâm lược, nội dung về tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa được lặp lại ở các cấp học. Nhiều thành tựu nghiên cứu mới về lịch sử chưa được cập nhật. Một số bài trong SGK, đặc biệt là phần lịch sử Việt Nam còn “nặng", mang tính hàn lâm, dung lượng bài chưa phù hợp với thời lượng dạy học. Cách trình bày của SGK còn ít kênh hình, tư liệu lịch sử...
Bên cạnh đó, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn lịch sử chậm đổi mới, chưa thực sự chuyển biến trong ý thức của từng GV và cán bộ quản lý. Đổi mới phương pháp dạy học chủ yếu diễn ra trong các kỳ thi, hội giảng, dự giờ hoặc những đợt kiểm tra, thanh tra của các cấp quản lí. Chưa có nhiều biện pháp để phát huy tính tích cực học tập của HS. Một bộ phận GV chưa chú trọng rèn luyện cho HS năng lực tư duy độc lập.
Việc kiểm tra, đánh giá vẫn yêu cầu học thuộc lòng nhiều hơn là các mức độ hiểu, vận dụng và các kỹ năng phân tích, tổng hợp, rút ra nhận xét, kết luận và các kĩ năng thực hành khác, chưa có tác dụng hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học. Một bộ phận GV môn lịch sử ở trường phổ thông còn hạn chế về năng lực chuyên môn.
Ngoài ra, mô hình đào tạo GV sư phạm nói chung, GV dạy lịch sử nói riêng vẫn còn chậm chuyển đổi sang hệ thống đào tạo mở, đào tạo theo tín chỉ, ít hội nhập quốc tế. Phương pháp đào tạo vẫn lạc hậu, phương pháp dạy học của một bộ phận không nhỏ GV các trường ĐH, CĐ chủ yếu vẫn là thuyết trình nên không phát huy được tính tích cực của sinh viên.
Các ý kiến đóng góp cũng cho rằng, nguyễn nhân của những bất cập này là do tư duy về giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; xã hội chưa nhận thức đúng vị trí, vai trò của môn lịch sử, vẫn còn tư tưởng coi trọng các môn tự nhiên, xem nhẹ các môn xã hội, trong đó có môn lịch sử; chế độ, chính sách chưa thực sự tạo động lực cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; khoa học giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chậm đổi mới và phát triển, còn nhiều bất cập; các trường, khoa sư phạm chưa thực sự được quan tâm, đầu tư đúng mức.
Thay đổi như thế nào?
Cũng theo Thông báo của Bộ GD-Đ, các chuyên gia tham sự hội thảo cũng cho rằng nhận thức đúng vị trí, vai trò của môn lịch sử ở trường phổ thông là vấn đề quan trọng bậc nhất hiện nay. Dạy học lịch sử không chỉ trang bị kiến thức mà còn có ưu thế trong việc giáo dục lòng yêu nước, trân trọng giá trị lịch sử truyền thống của dân tộc, giáo dục nhân cách, tư duy độc lập sáng tạo cho HS. Đối với Việt Nam, lịch sử càng giữ vai trò quan trọng, gắn liền với sự phát triển và tồn vong của quốc gia - dân tộc.
Việc dạy học lịch sử cần quán triệt các mục tiêu này đối với tất cả HS phổ thông, mặt khác phải đóng góp nhiều định hướng ngành nghề của HS sau giáo dục phổ thông. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, sẽ có một số HS thực sự yêu mến và có năng lực tiếp tục học các chuyên ngành lịch sử để trở thành những tài năng trẻ về sử học.
Chính vì thế đổi mới chương trình, SGK môn lịch sử phải tuân theo các nguyên tắc: Quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng; đảm bảo kế thừa những thành tựu của Việt Nam và vận dụng hợp lý kinh nghiệm quốc tế về phát triển chương trình giáo dục phổ thông; đảm bảo tính thống nhất toàn quốc, linh hoạt vùng miền, phù hợp với đối tượng và tính khả thi của chương trình, SGK; đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và phương thức đánh giá kết quả học tập.
Ngoài ra, nên cấu trúc chương trình theo hướng kết hợp giữa “đồng tâm” với “đường thẳng”, ở Tiểu học và THCS cần thực hiện tốt hơn phương châm dạy học tích hợp, góp phần giảm số lượng môn học ở 2 cấp này; ở THPT cần thực hiện tốt hơn phương châm dạy học phân hóa bằng cách có thêm nhiều nội dung dạy học tự chọn; nội dung giáo dục cần mang tính chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Nên cân đối để bảo đảm hài hòa giữa lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc trong từng cấp học; giảm nội dung chính trị, chiến tranh, bổ sung lịch sử văn minh thế giới, các nội dung về văn hóa dân tộc, về kinh tế; cập nhật những thành tựu nghiên cứu của khoa học lịch sử; gắn nội dung bài học lịch sử với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước, giữ gìn chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Bên cạnh đó, cần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo hướng kết hợp hợp lí các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại để tạo hứng thú học tập cho HS; chú trọng rèn luyện năng tự học với SGK và các tư liệu lịch sử khác, nghe giảng - tự ghi chép, ghi nhớ, hiểu, vận dụng kiến thức lịch sử và trình bày các vấn đề lịch sử; đa dạng các hình thức tổ chức dạy học, tăng cường khai thác các tư liệu bảo tàng, tổ chức dạy học lịch sử tại bảo tàng, nhà truyền thống, từng bước thực hiện giáo dục di sản và dạy học theo dự án; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin có hiệu quả trong dạy học lịch sử.
 
Thăm phòng trưng bày hiện vật liên quan đến lịch sử Thành nhà Hồ và Vương triều Hồ.
Học sinh Thanh Hóa trong một buổi học thực nghiệm môn Lịch sử tại di sản Thành nhà Hồ. (Ảnh: Nguyễn Thùy)
Hoạt động kiểm tra, đánh giá phải có tác dụng hỗ trợ thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, đề kiểm tra, thi theo hướng mở; kết hợp giữa hình thức ra đề tự luận và trắc nghiệm khách quan; triển khai nội dung đào tạo trong các khoa sư phạm và bồi dưỡng GV phổ thông về kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học (đánh giá trên lớp), kết hợp đánh giá trên lớp và đánh giá đầu ra; kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS.
Lãnh đạo Bộ GD-ĐT cho biết, những ý kiến đóng góp này cũng là kênh để các Sở GD-ĐT, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng GV phổ thông và các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ GD-ĐT tiếp tục nghiên cứu vận dụng trong triển khai tổ chức thực hiện nhiệm vụ GD-ĐT hàng năm.
S.H

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

Tại sao dựa vào cuốn Chuẩn kiến thức kĩ năng ?- Giáo viên có thể dạy thoát ly sách giáo khoa

Tại sao dựa vào cuốn Chuẩn kiến thức kĩ năng ?- Giáo viên có thể dạy thoát ly sách giáo khoa

Bộ GD-ĐT sẽ ban hành bộ tài liệu dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng đối với cả bậc giáo dục tiểu học . Trong đó có việc giáo viên không cần dạy hết những gì trong sách giáo khoa. Vậy tại sao lại cho ra đời cuốn Chuẩn kiến thức kĩ năng? Thế mấy năm nay ta không dạy học theo chuẩn hay sao??? Thế thì vai trò của sách giáo khoa sẽ bị mờ nhạt đi ư ??? Tất cả các vấn đề về cuốn sách Chuẩn Kiến thức ....Xin các thầy cô đọc sẽ hiểu
Theo ông Nguyễn Hải Châu, phó vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học - Bộ GD-ĐT, cho biết:1. Sách giáo khoa gần như là pháp lệnh  nhưng soạn theo tính tương đối. Vậy cuốn chuẩn KTKN ra đời nhằm khẳng định phạm vi kiến thức, yêu cầu cần đạt tối thiểu của mỗi bài dạy cho mọi học sinh ở mọi vùng miền
Sách giáo khoa được biên soạn dựa vào chương trình giáo dục phổ thông của Bộ GD-ĐT. Chương trình cũng đã đề cập đến chuẩn tối thiểu phải đạt được trong quá trình dạy học, nhưng chỉ nêu khái quát, mang tính tương đối. Những giáo viên có trình độ khá, giỏi thì không cần đến hướng dẫn cũng có thể xác định đúng chuẩn tối thiểu trong chương trình để bám sát vào đó dạy học.
2. Nhờ có cuốn Chuẩn kiến thức  mà HS  không  bị nhồi nhét kiến thức, bị quá tải
Thật vậy, thực tế có nhiều giáo viên còn thụ động, không có khả năng xác định và bám sát chuẩn tối thiểu dẫn đến việc dạy học vượt chuẩn tối thiểu cho những đối tượng học sinh (HS) có trình độ nhận thức trung bình, dưới trung bình. Điều này gây tâm lý HS bị nhồi nhét kiến thức, bị quá tải.
  
  
3. Nhờ có cuốn chuẩn mà giáo viên dạy học linh hoạt hơn , phù hợp với đối tượng học sinh của mình.
Ta thấy một điều: Ở các địa phương khó khăn, tình trạng “dạy quá chuẩn tối thiểu” có thể thấy rõ. Chính vì vậy Bộ GD-ĐT phải ban hành bộ tài liệu hướng dẫn - đó là yêu cầu tối thiểu HS cần phải đạt được. Giáo viên tùy theo trình độ nhận thức của HS, điều kiện dạy học khác nhau để dạy học linh hoạt, hoặc bám sát chuẩn tối thiểu (hướng dẫn) hoặc dạy ở mức độ cao hơn nhưng vẫn nằm trong chương trình.
4. Cuốn chuẩn là thước đo đánh giá giờ dạy của giáo viên, đánh giá việc lĩnh hội tri thức ở mỗi bài dạy cho  học sinh
Sách giáo khoa có thể xem là nguyên liệu minh họa cho chương trình, nó phủ lên chương trình. Nhưng từ trước đến nay, Bộ GD-ĐT không hề chỉ đạo giáo viên phải dạy hết những nội dung trong sách giáo khoa viết, mà cả việc dạy học cũng như kiểm tra, đánh giá đều phải bám sát chương trình. Tình trạng giáo viên dạy ôm đồm tất cả những gì ở sách giáo khoa là do giáo viên chưa hiểu sâu yêu cầu chương trình, do chất lượng tập huấn giáo viên dạy chương trình mới không đạt hiệu quả và cán bộ quản lý giáo dục các cấp không hướng dẫn rõ ràng, cụ thể cho giáo viên khi triển khai chương trình - sách giáo khoa mới. Giáo viên hiểu chưa đúng thì HS cũng như vậy.

Với hướng dẫn mới, giáo viên hoàn toàn có thể thoát ly sách giáo khoa, thậm chí sử dụng những nguồn tài liệu khác phục vụ việc giảng dạy, chỉ cần không đi chệch ra ngoài chương trình. Giáo dục căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng để đặt ra yêu cầu cụ thể đối với HS trong quá trình học tập. 5. Dạy học bám sát chuẩn tối thiểu không có nghĩa là cắt xén, lược bỏ kiến thức trong chương trình. Giữa các đối tượng HS khác nhau chỉ áp dụng nội dung dạy học khác nhau về mức độ. Vì thế không lo việc bỏ sót kiến thức khi đi thi.HS trung bình để đạt yêu cầu trong những kỳ thi nhằm kiểm tra việc hoàn thành chương trình học của HS (thi tốt nghiệp THPT) phải đạt yêu cầu chuẩn tối thiểu trong quá trình học tập. HS muốn đạt kết quả trong các kỳ thi mang tính phân loại, chọn lọc cần phải đạt yêu cầu ở các mức độ cao hơn (phân tích, tổng hợp kiến thức, vận dụng kiến thức, sáng tạo).
Sẽ không cho điểm một số môn họcÔng Lê Tiến Thành, vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học Bộ GD-ĐT, cho biết Bộ GD-ĐT đang xây dựng quy định đánh giá, xếp loại hạnh kiểm, học lực đối với HS tiểu học. Theo đó việc đánh giá, xếp loại học lực của HS căn cứ việc đánh giá bằng cho điểm kết hợp nhận xét ở các môn toán, tiếng Việt, khoa học, lịch sử, địa lý, tiếng nước ngoài, tiếng dân tộc, tin học.Đối với các môn đạo đức, tự nhiên - xã hội, âm nhạc, mỹ thuật, thủ công, thể dục (lớp 1, 2, 3) và đạo đức, âm nhạc, mỹ thuật, kỹ thuật, thể dục (lớp 4, 5) không cho điểm mà chỉ đánh giá bằng nhận xét (quá trình học tập và xác nhận việc hoàn thành của HS).* Thầy Lê Ngọc Điệp (trưởng phòng giáo dục tiểu học Sở GD-ĐT TP.HCM):Tăng cường hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớpBộ hướng dẫn dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng bậc tiểu học đã được biên soạn từ năm trước. TP.HCM đã vận dụng chuẩn này trong kiểm tra học kỳ. Giáo viên sẽ đảm bảo cho HS nắm bắt kiến thức kỹ năng từ chuẩn trở lên, chuẩn này không quá khó đối với đối tượng HS .Tuy nhiên, giáo dục tiểu học không chỉ dạy chữ, sở chủ trương không nâng cao, mở rộng kiến thức so với chuẩn. Nếu giáo viên mở rộng kiến thức nhưng không biết chừng trẻ sẽ rất khổ. Thay vào đó, các trường sẽ dành thời gian tăng cường tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để rèn kỹ năng cho HS.* Cô Phạm Thị Huệ (hiệu trưởng Trường THCS Bạch Đằng, Q.3, TP.HCM):Cần thay đổi cách đánh giá giờ giảng giáo viênTôi chưa được tiếp cận bộ hướng dẫn giảng dạy theo chuẩn mới. Nhưng theo tôi, sách giáo khoa hiện quá nặng. Nếu bộ chuẩn kiến thức kỹ năng của bộ lần này có thể giới hạn chuẩn đối với từng đối tượng HS, lược bớt kiến thức chương trình là quá hay! Căn cứ theo đó, giáo viên sẽ nắm được kiến thức, kỹ năng tối thiểu ở mức nào, chủ động, sáng tạo hơn trong từng bài giảng, phù hợp với đối tượng HS. Khâu ra đề các kỳ thi sẽ theo chuẩn này, có phần kiến thức tối thiểu và phần nâng cao để phân loại HS khá, giỏi.Theo tôi, muốn phát huy sáng tạo của giáo viên, nâng hiệu quả giảng dạy, quản lý cần thay đổi cách đánh giá giờ giảng giáo viên, ngoài chuẩn kiến thức cần căn cứ theo hiệu quả kỹ năng từng đối tượng HS đạt được sau tiết học, giờ học thay cho cách đánh giá “bám theo sách”.


sưu tầm và giới thiệu____ 
Tác giả bài viết: Hằng
Nguồn tin: thptdatong.dayhoc.vn

Khổ vì chuẩn kiến thức!

Khổ vì chuẩn kiến thức!

Theo Công văn số 7394/BGDĐT-GDTrH, ngày 25-8-2009, từ đầu học kỳ 2 năm học 2009-2010, các trường THCS, THPTtrong cả nước phải áp dụng dạy học theo sách Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng cho tất cả các môn học

Mục đích của Bộ GD-ĐTlà để bảo đảm việc dạy học, kiểm tra, đánh giá, bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng, phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh; không làm quá tải nội dung dạy học; giúp học sinh thuận lợi trong việc tự học, tự kiểm tra, đánh giá để nắm vững kiến thức, kỹ năng. Tuy nhiên, từ khi thực hiện, người dạy và học tại các cơ sở giáo dục đã gặp nhiều bất cập.
 
Thứ nhất, người dạy và người học đã quen với bộ sách giáo khoa (SGK). Họ coi đây là tài liệu pháp lệnh mà Bộ GD-ĐT đã quy định trước đây, bây giờ còn in sâu trong tâm thức nên rất khó thay đổi.
 
Thứ hai, nội dung sáchHướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng xoay quanh những chương, bài học trong SGK. Có một số bài bị lược bỏ nhưng những chương, bài này đã và sẽ có trong sách Hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp từng năm mà Bộ GD-ĐT phát hành đầu mỗi kỳ thi.
 
Thứ ba, sách Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng không phát hành rộng rãi. Các sở GD-ĐT đã triển khai nhưng mỗi trường học chỉ có vài bộ cho một môn học để giáo viên tham khảo, giáo viên muốn có sách đầy đủ phải tự bỏ tiền mua. Riêng học sinh hầu như không có bộ sách này, phần lớn các em cũng bám sát SGK vì thầy cô giáo dạy trên lớp cũng dựa theo SGK.
 
Thứ tư, trong nhà trường phân phối chương trình theo bài học SGK chứ không theo sách chuẩn kiến thức và các kỳ thi, Bộ GD-ĐT luôn quy định người ra đề thi phải bám sát SGK, bám sát chương trình học.
 
Thứ năm, nếu thực hiện dùng sách Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng vào làm tài liệu giảng dạy thì tất cả giáo viên phải nghiên cứu cả hai bộ sách trong khi kiến thức hai sách này như nhau. Đồng thời, giáo viên cần soạn giáo án và đề kiểm tra bám sát sách nói trên từ năm học 2010 - 2011.
 
Biết rằng SGK là tài liệu chính thức để dạy – học, sách Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng là trọng tâm chương trình song chúng ta thực hiện không đồng bộ, nhất quán, dẫn đến nhiều khó khăn trong thực tiễn.
 
Từ những điều rút ra trong quá trình thực tế giảng dạy, người viết đề nghị các đồng nghiệp thảo luận thêm về vấn đề này và đưa ra sự khác biệt giữa 3 sách: Chuẩn kiến thức; Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng; SGK để sớm tìm ra giải pháp thực hiện đồng bộ góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong việc dạy – học nói chung.
Đào Tấn Trực (Trường THPT Lê Thành Phương – Phú Yên)

Các mức độ về chuẩn kiến thức - kĩ năng

Các mức độ về chuẩn kiến thức - kĩ năng

Chuẩn kiến thức - kĩ năng là yêu cầu đòi hỏi đối với giáo viên (GV) trong quá trình thực hiện chương trình giảng dạy. Tuy nhiên, tùy theo cấp học, đối tượng và cả vùng miền mà yêu cầu chuẩn kiến thức - kĩ năng có mức độ khác nhau.
Về kiến thức, yêu cầu học sinh phải nhớ, nắm vững, hiểu rõ các kiến thức cơ bản trong chương trình và sách giáo khoa. Những tri thức đó chính là nền tảng vững chắc để các em phát triển năng lực nhận thức ở mức độ cao hơn trong quá trình học tập sau này. Về kĩ năng, học sinh biết vận dụng tri thức đã được tiếp thu để trả lời câu hỏi, giải bài tập, làm thực hành, có kĩ năng tính toán, vẽ hình, dựng biểu đồ… sau mỗi bài hoặc mỗi chương đã học. Yêu cầu cần đạt về kiến thức thường được xác định theo sáu mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo. Đối với chương trình GDTX cấp THPT, mức độ cần đạt được về kiến thức, kĩ năng đối với học viên nói chung chủ yếu được yêu cầu ở ba mức đầu: nhận biết, thông hiểu và vận dụng ở mức độ thấp. Cũng cần phải nói thêm, do đặc thù bộ môn mà một số môn học có thể đưa ra yêu cầu ở mức độ cao hơn. Tuy nhiên mức độ đó cũng không vượt quá yêu cầu quy định trong chương trình. Trước hết về khái niệm nhận biết: Nhận biết là sự nhớ các dữ liệu, thông tin đã có trước đây. Từ sự hồi tưởng đó người học tái hiện được thông tin nhắc lại một loạt dữ liệu từ các sự kiện đơn giản. Hoặc nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp. Ví dụ, các em nêu được định nghĩa: “Quá trình biến đổi chất này thành chất khác gọi là phản ứng hóa học”, sau khi học xong bài Phản ứng hóa học (lớp 9). Đây là mức độ, yêu cầu thấp nhất của trình độ nhận thức, thể hiện ở chỗ các em có thể và chỉ cần nhớ hoặc nhận ra khi được đưa ra hoặc dựa trên những thông tin có tính đặc thù của một khái niệm, một sự vật, một hiện tượng. Có nghĩa là các em chỉ cần phát biểu đúng một định nghĩa, định lí hoặc định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng. Mức độ nhận biết có thể được cụ thể hóa bằng các yêu cầu: nhận ra nhớ lại các khái niệm, nhận dạng được (mà không cần giải thích) các khái niệm hoặc liệt kê, xác định mối quan hệ giữa các yếu tố.
Về thông hiểu, đó là khả năng nắm chắc hoặc giải thích và chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm sự vật, hiện tượng. Người học có thể chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác bằng cách giải thích thông tin và ước lượng xu hướng tương lai. Ví dụ, “Giải thích hình ảnh thằn lằn phơi nắng vào các thời điểm khác nhau trong ngày” sau khi học bài Sinh vật và môi trường. Mức độ thông hiểu được cụ thể hóa bằng các yêu cầu: Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân các khái niệm, định lí, định luật, chuyển đổi từ hình thức ngôn ngữ này sang hình thức ngôn ngữ khác (từ lời nói sang công thức, kí hiệu hay số liệu). Biểu thị, minh họa, giải thích được ý nghĩa các khái niệm, hiện tượng; lựa chọn sắp xếp bổ sung những thông tin cần thiết để giải quyết một vấn đề nào đó theo một cấu trúc logic cũng là một cách thông hiểu. 
Vận dụng là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi các em phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó. Ví dụ, GV yêu cầu các em vận dụng kiến thức đã học về quy đồng mẫu thức nhiều phân thức để làm một số bài tập sau khi học xong hai bài lý thuyết Quy đồng mẫu thức. Đây là mức độ giải quyết vấn đề cao hơn mức độ thông hiểu, có thể áp dụng được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, công thức để giải quyết vấn đề đã biết trước đó. Mức độ vận dụng thường được cụ thể hóa bằng những yêu cầu sau: so sánh các phương án giải quyết vấn đề; phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa được. Giải quyết những tình huống mới bằng cách vận dụng các khái niệm định lí, định luật tính chất đã biết. Vận dụng cao hơn là biết khái quát hóa, trừu tượng hóa những tình huống đơn giản đơn lẻ quen thuộc sang tình huống mới phức tạp hơn.
Bài, ảnh: Phan Ngọc Quang
Ông Phạm Chí Dũng - chuyên viên Phòng GDTX (Sở GD-ĐT TP. HCM) - cho biết: Các mức độ về chuẩn kiến thức - kĩ năng (KT - KN) được cụ thể hóa như sau: Về kiến thức: Yêu cầu học sinh phải nhớ, nắm vững hiểu rõ các kiến thức cơ bản trong chương trình, sách giáo khoa. Đây chính là nền tảng vững vàng để giúp các em phát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn. Về kĩ năng: Biết vận dụng các kiến thức đã học để trả lời câu hỏi, giải bài tập, làm thực hành, có kĩ năng tính toán, vẽ hình, dựng biểu đồ… Tuy nhiên, việc xác định chuẩn KT- KN phải dựa trên cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ từng học sinh ở các mức độ, từ đơn giản đến phức tạp; nội dung bao hàm các mức độ khác nhau của nhận thức. 
 

KHỔ VÌ CHUẨN VÀ SÁCH “ĐÁ”NHAU

KHỔ VÌ CHUẨN VÀ SÁCH “ĐÁ”NHAU
PHÚC ĐIỀN
Bộ chuẩn kiến thức kỹ năng từng được kỳ vọng sẽ giúp thầy và trò thoát khỏi gánh nặng kiến thức "mênh mông" trong sách giáo khoa lại đang khiến cả giáo viên lẫn học sinh khốn đốn.
Hướng dẫn từ cấp bộ lần này khẳng định: "Chương trình THPT (ban hành năm 2006) là tài liệu ngắn gọn nhất, là pháp lệnh buộc tất cả các cấp các ngành phải tuân theo. Sách giáo khoa (SGK) là tài liệu viết cho HS học trên lớp và ở nhà, là tài liệu để GV chuẩn bị bài giảng. Còn chuẩn kiến thức kỹ năng giúp GV xác định những kiến thức tối thiểu. Giáo án phải chuyển tải được chuẩn nhưng không thoát ly khỏi SGK, GV dạy học bám sát chuẩn nhưng không được cắt xén, lược bỏ kiến thức trong chương trình”.Đầu năm học mới, Bộ GD-ĐT đã tổ chức Hội nghị hướng dẫn kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng chương trình THPT ở ba miền với sự tham dự của chuyên viên, giáo viên (GV) chủ chốt ba môn văn, sử, địa tất cả các tỉnh thành.
Riêng đối với môn lịch sử lớp 12, GV không chỉ bó gọn trong chuẩn mà phải mở rộng thêm kiến thức trong SGK. Thông tin này khi được triển khai về trường đã gây hoang mang cho GV đang giảng dạy lớp 12.
Càng hướng dẫn càng rối
Ngay sau kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2010 với sự cố HS mất 1/4 số điểm bài thi vì trót học và làm bài theo sách Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng môn lịch sử, nhiều GV bộ môn này tiên liệu năm nay sẽ rất khó khăn cho cả thầy lẫn trò trong việc dạy và học môn này.
 “Rút kinh nghiệm thương đau” từ đáp án kỳ thi năm trước, ngay trong hè nhiều GV lịch sử tại TP.HCM đã soạn lại đề cương giảng dạy theo hướng bám sát kiến thức SGK 12. Nay họ lại được hướng dẫn dạy theo chuẩn nhưng không được thoát ly SGK, không được lược bỏ chương trình.
Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều kiến thức có trong SGK nhưng không có trong chuẩn. Ngược lại nhiều ý có trong chuẩn lại nằm trong phần đọc thêm của SGK, thậm chí không có trong SGK. Học chuẩn không học SGK cũng không đủ, ngược lại học SGK cũng sợ thiếu.
Để có thể gói đầy đủ kiến thức trong SGK và bám sát chuẩn, thay cho đề cương môn lịch sử khoảng 40-50 trang A4 của năm trước, tài liệu giảng dạy năm nay dày đến 70 trang nhưng vẫn chưa thể an lòng, bởi có trời mới biết đề thi và đáp án căn cứ theo sách nào.
Môn địa lý cũng được hướng dẫn dạy bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng. Thế nhưng theo nhận định của nhiều GV bộ môn này, nhiều kiến thức, thậm chí một số phần bài trong SGK không có trong chuẩn. Chưa kể một số phần trong chuẩn không ổn về kiến thức.
Theo chuẩn không an tâm, còn nếu theo SGK thì sao? Thầy Đặng Duy Định, tổ trưởng tổ địa lý Trường THPT Nguyễn Chí Thanh (TP.HCM), cho rằng: "Chỉ có những HS giỏi mới theo nổi khối kiến thức trong SGK".
Hầu hết GV đều phải soạn một đề cương ngắn gọn, sơ lược hay chi tiết tùy vào đối tượng HS của mình. Cũng như lịch sử, với cách làm này, GV môn địa cũng không dám kỳ vọng HS mình sẽ đạt yêu cầu đề thi và đáp án.
Thầy trò cùng chạy
Đặc biệt, với HS giáo dục thường xuyên vốn đa số có trình độ yếu hơn so với các trường THPT, tình hình càng căng thẳng hơn.
Cô Nguyễn Kim Trang, GV Trung tâm Giáo dục thường xuyên Q.1, cho biết: “Chúng tôi chưa nhận được hướng dẫn nào từ Vụ Giáo dục thường xuyên nên cứ theo SGK, theo phân phối chương trình mà dạy. Sách hướng dẫn chuẩn kiến thức kỹ năng chỉ để tham khảo, HS cũng có mua để học cho ngắn gọn, từ năm ngoái đến giờ tôi vẫn bám sát SGK”.
 Trong khi đó, cùng nơi này, GV môn địa lý lại được hướng dẫn dạy bám theo chuẩn (?!).
Hóa ra khi bộ không có hướng dẫn gì, GV yên tâm giảng dạy với SGK. “Từ lúc nhận được hướng dẫn đến giờ, dư luận GV vốn hoang mang từ năm trước giờ càng hoang mang, mất phương hướng hơn” - cô Nguyễn Thị Ái Hằng, tổ trưởng tổ lịch sử Trường THPT Trần Phú, TP.HCM, tâm tư.
Thầy Tống Giang, tổ trưởng bộ môn lịch sử Trường THPT Phạm Thái Bường (Trà Vinh), nói: “SGK mênh mông quá! Thực tế chúng tôi không có đủ thời gian giảng dạy. Không có cách gì dạy hết kiến thức trong SGK, phải rút ngắn thôi! Do đó, chúng tôi làm đề cương và dạy theo chuẩn kiến thức kỹ năng, cuối năm nếu có thi tốt nghiệp sẽ mở rộng kiến thức”.
Tuổi Trẻ