Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

Có nên dạy lịch sử qua tên phố?

Có nên dạy lịch sử qua tên phố?
 Báo Người đưa tin

Bộ GD&ĐT vừa chính thức công bố 6 môn thi tốt nghiệp THPT, trong đó có Lịch sử. Trước thông tin này, các trường lập tức “lên dây cót” tăng số giờ học để “bù” lại thời gian dạy qua quýt cho môn học cả năm bị coi là “phụ”.
Tên phố
Còn nhớ mới đây, Hà Nội đề xuất học sử qua tên phố. Với ý tưởng này, nhiều chuyên gia hy vọng sẽ nhen nhóm, thậm chí thổi bùng ý thức học sử, yêu sử trong mỗi thế hệ học sinh. Thế nhưng, ý tưởng vừa đưa vào thực hiện thì đã nảy sinh sai sót.
Hà Nội thí điểm trên một số tuyến đường nhưng còn nhiều kiến thức chưa chuẩn xác. Chẳng hạn, trên tấm biển giới thiệu về địa danh Điện Biên Phủ có ghi: “Điện Biên Phủ: Tên địa danh thuộc tỉnh Lai Châu, nơi diễn ra trận đánh quyết liệt của quân và dân ta tiêu diệt đoàn cứ điểm thực dân Pháp kéo dài 55 ngày đêm”.
Trên thực tế, địa danh này đã thuộc về TP Điện Biên từ 9 năm về trước (năm 2003) nhưng người làm biển vẫn ghi thuộc tỉnh Lai Châu mà không có chú thích nào phía dưới.
Và thêm một lần nữa, vấn đề dạy và học sử lại tiếp tục được đưa lên bàn cân. Nhiều ý kiến cho rằng, có một thực tại cố hữu là các nhà giáo dục và Sử học cần thẳng thắn nhìn nhận về phương pháp học sử còn mang nặng tính hình thức hiện nay.
Nếu ý thức tiếp thu không xuất phát từ bản thân mỗi học sinh thì du thầy cô có dốc hết tâm huyết trên bục giảng, hay các thành phố lớn có in hàng trăm ngàn biển hiệu… cũng chỉ là cách thay đổi lượng, chứ chưa thay đổi về chất.
Con số hàng nghìn học sinh bị điểm 0 trong kỳ thi Đại học năm 2011 vẫn luôn được dư luận nhắc đến như “thảm họa” của ngành Giáo dục. Nhiều ý kiến cho rằng, môn Lịch sử được đưa vào 6 môn thi tốt nghiệp THPT lần này sẽ khắc phục được tình trạng bị điểm thấp trong kỳ thi Đại học năm nay.
GS. Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã có lần khẳng định trên báo chí rằng: Học sinh không thích học Lịch sử là do người lớn?!. Thiết nghĩ, trong khi tranh cãi nguyên nhân còn chưa đến hồi kết, có lẽ việc cải thiện phương pháp dạy và học vẫn là chuyện trước mắt phải bàn.
Không thể gọi là phương pháp dạy lịch sử
Nhắc đến ý tưởng học sử qua tên phố, trao đổi với Người đưa tin, PGS. TS Phạm Hồng Tung - ĐHQG Hà Nội cho biết:
“Không thể gọi đây là phương pháp mà chỉ đơn thuần là một cách phổ biến và truyền bá lịch sử trong đời sống của nhân dân. Cách làm này đã được nhiều nước phát triển trên thế giới áp dụng. Tại Việt Nam, địa phương đầu tiên thử nghiệm là TP.HCM. Tiếp đó, Hà Nội nối gót với cách làm khá cầu kì, cẩn thận.
Đây là một hoạt động rất đáng khuyến khích và trân trọng song cũng vẫn tồn tại mặt trái. Nếu biển bảng chú thích thiếu chính xác hoặc sơ sài sẽ khiến người dân hiểu sai lịch sử.
Ngoài ra, hầu hết các con phố đều mang tên các danh nhân, anh hùng đất nước. Cách ghi chú về cuộc đời họ phải được thực hiện trang trọng, nếu không sẽ rất dễ gây phản cảm”
“Bắt” thi cũng là một cách khắc phục
Giáo sư sử học Lê Văn Lan cho biết: “Hạn chế trong dạy và học sử đang là tình trạng chung của toàn nhân loại. Tôi đã đi nhiều nước, tiếp xúc với nhiều nền giáo dục và họ đều thừa nhận về những điểm hạn chế ấy. Tôi không quá bất ngờ trước phát ngôn của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT cho rằng điểm sử trong kỳ thi năm 2011 là chuyện bình thường.
Thực chất, Bộ trưởng đang đánh giá về sự sai lầm của cả một hệ thống giáo dục. Theo ông, cứ hoạt động theo cơ chế biên soạn sách giáo khoa theo chương trình có sẵn, rồi các thầy cô dựa vào sách để dạy cho học trò… thì kết quả điểm 0 là tất yếu.
Khi phát hiện ra sai lầm, những người cầm cân nảy mực phải sửa. Và tôi biết họ đã vào cuộc rồi đấy. Theo tôi, biện pháp bắt buộc thi cũng là một cách sửa”.
Có trực quan sinh động sẽ dễ tiếp thu
Chị Dương Thu Hương, phóng viên truyền hình Quảng Ninh (Giải Nhì học sinh giỏi quốc gia môn Sử năm 2005 - 2006) cho rằng: "Ai cũng biết học sử để hiểu về những năm tháng đã qua của dân tộc là một điều cần thiết và đáng quý. Tuy nhiên, nói thì dễ nhưng để các em học sinh yêu sử quả thật không đơn giản.
Nhất là khi các môn học khác có trực quan sinh động dễ tiếp cận hơn, còn Lịch sử chủ yếu vẫn dựa vào sách giáo khoa và tập trung vào số liệu. Các em ít có cơ hội đến với các di sản, các địa điểm chiến tích gắn liền với lịch sử hào hùng dân tộc.
Hoặc nếu được đặt chân đến cũng dễ thất vọng vì tình trạng xuống cấp, lấn chiếm di tích phổ biến…Chính vì thế muốn học sinh “yêu” sử cần có một thay đổi tổng thể”.
Cần xem lại quan niệm về học sửã
ĐBQH Dương Trung Quốc cho rằng: “Chúng ta cần xem lại quan niệm về học sử. Nghề sử là ngụ ngôn chứ không phải tri thức chính xác. Nếu cần biết trận đánh này tiêu diệt bao nhiêu quân địch chỉ cần mở máy tính là có thể biết được.
Cái quan trọng là ý nghĩa sâu xa của mỗi sự kiện lịch sử. Học sinh ở nước Mỹ học sử thảo luận là chính. Các em phải tìm xem trong sự kiện thầy giáo nêu có ý nghĩa gì, tích cực, tiêu cực ra sao. Từ đó các em sẽ hình thành được phương pháp tư duy cho mình.
Mong muốn nâng cao chất lượng dạy và học Sử không chỉ của Bộ GD&DT, Hội Khoa học Lịch sử mà là của toàn xã hội. Nhưng mong muốn ấy phải được thể hiện bằng những việc làm cụ thể. Cần nỗ lực điều chỉnh cơ chế cũ, thay đổi hệ thống chương trình, hình thức biên soạn SGK những năm qua. Tất cả những việc làm trên cần phải có lộ trình, tránh những điều chỉnh vội vàng”.
Chán học sử vì tâm lý... môn phụ
Nhà xã hội học Trịnh Hòa Bịnh nhận định: “Thực trạng dạy và học môn sử thời gian qua được liên tiếp dậy sóng trong dư luận. Đa số học sinh coi môn Sử là môn phụ, môn học thuộc nên rất thờ ơ. Nhiều nơi xem nhẹ môn học này tới mức thi thì học, không thi thì học dồn vào một thời gian cho hết chương trình.
Kết quả trong các kỳ thi chính thức do ngành GD&ĐT tổ chức, nhiều em đến kiến thức sơ đẳng cũng không biết. Thực tế này là kết quả của sự nhận thức sai lệch về vị thế môn Sử trong giáo dục phổ thông. Học Sử mà vẫn a dua theo tâm lý đám đông là điều hết sức thiển cận”.
Điều mà TS. Trịnh Hòa Bình đặc biệt quan tâm là phương pháp dạy Sử. “Phải làm sao để học sinh tự nguyện, say mê và phải kích thích được trí thông minh, sáng tạo của các em. Dạy Sử không phải chỉ dạy các chứng cứá lịch sử mà là khắc vào tình cảm, trong tâm khảm các em niềm yêu thích lịch sử của đất nước mình, dân tộc mình”, TS. Bình nói.

Có thể học qua các ca khúc
Trao đổi với Người đưa tin, PGS. TS Nguyễn Duy Bính- Khoa Lịch sử - Trường ĐHSP Hà Nội nhận định:
“Tôi đồng ý với quan điểm khi cho rằng để mọi người và học sinh yêu thích môn Lịch sử là cả một quá trình, cần phải có nhiều cải cách từ việc biên soạn lại sách giáo khoa cho tới thay đổi phương pháp của người truyền tải.
Nếu như chúng ta vẫn tiếp tục dạy học theo phương pháp như hiện nay thì sẽ không mang lại hiệu quả.
Cụ thể, cần liên tục đưa ra những hoạt động ngoại khóa, như chương trình Sử ca học đường. Qua những ca khúc hay viết về đề tài Lịch sử, học sinh được tiếp cận với nhân vật, sự kiện một cách nhẹ nhàng, tự nhiên”

Vận dụng phương pháp lịch sử và lô-gic trong giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sảng Việt Nam phần Cách mạng xã hội chủ nghĩa

Vận dụng phương pháp lịch sử và lô-gic trong giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sảng Việt Nam phần Cách mạng xã hội chủ nghĩa

Th.s Phan Quốc Huy - Đại học Vinh

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đưa sự nghiệp đổi mới đi đến thành công, đây là một phần lịch sử cần phải được giảng dạy vừa đảm bảo tính khoa học và tính thực tiễn. Vì vậy, việc đổi mới phương pháp giảng dạy lịch sử Đảng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho học viên và sinh viên trong các trường Đại học, trường Chính trị là một việc làm hết sức cấp thiết. Đặc biệt là đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác- Lênin nói chung, trong đó có môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
 Giảng dạy chính trị, đường lối nói chung đến với người nghe được đã khó, giảng dạy hấp dẫn lại càng khó hơn. Trong nhiều năm qua khi giảng dạy môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cho các đối tượng học viên, sinh viên nhờ vận dụng phương pháp dạy học đặc trưng của Lịch sử Đảng là phương pháp Lịch sử và lôgíc chúng tôi đã phần nào tạo ra hứng thú cho người học. Nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp dạy học tích cực của các môn khoa học xã hội trong quá trình lên lớp đã giúp cho giáo viên vững vàng hơn về một cách dạy học hứng thú người học, người nghe. Sau đây là một vài trao đổi.
 Lịch sử là phương pháp phản ánh trong tư duy quá trình lịch sử - cụ thể của sự vật với những chi tiết của nó trong sự vận động phát triển vốn có. Chẳng hạn việc nghiên cứu chủ nghĩa tư bản bằng phương pháp lịch sử đòi hỏi phải bắt đầu mô tả quá trình phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản trong các nước riêng lẻ ở châu Âu, châu Mỹ với vô số các chi tiết và các hình thức cụ thể bao gồm cái phổ biến, tất nhiên, đặc thù, đơn nhất, ngẫu nhiên.
 Phương pháp lịch sử có giá trị to lớn và quan trọng nhờ nó con người có thể nắm bắt tương đối trọn vẹn quá trình đã diễn ra sự vật. Do đó nếu không có phương pháp lịch sử thì không có khoa học lịch sử. Tuy nhiên phương pháp lịch sử có hạn chế ở chỗ, phương pháp này chưa chỉ rõ mối liên hệ bản chất, tất yếu xuyên suốt bên trong một sự vật hay nhiều sự vật.
  Lôgíc là phương pháp vạch ra bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của sự vật dưới hình thức lý luận trừu tượng và khái quát.
So với phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc có nhiệm vụ dựng lại cái lôgíc khách quan trong sự phát triển của sự vật nên có ưu thế ở chỗ nó không những phản ánh được bản chất, tất yếu, quy luật phát triển của sự vật mà nó còn phản ánh được lịch sử phát triển của sự vật ấy (một cách tóm tắt, khái quát, trên những giai đoạn chủ yếu). Phương pháp lôgíc có khả năng kết hợp trong bản thân mình hai yếu tố của sự nghiên cứu: Nghiên cứu kết cấu của sự vật cùng với hiểu biết lịch sử của sự vật trong sự thống nhất chặt chẽ của chúng.
 Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là hai phương pháp nghiên cứu khác nhau, nhưng lại gắn bó chặt chẽ với nhau. Bởi vì muốn hiểu biết bản chất và quy luật của sự vật thì phải hiểu lịch sử phát sinh, phát triển của nó. Mặt khác có nắm được bản chất và quy luật của sự vật mới nhận thức thức được lịch sử của nó một cách đúng đắn và sâu sắc. Phương pháp lịch sử cũng phải nắm lấy cái lôgíc, phải rút ra sợi dây lôgíc chủ yếu của lịch sử thông qua việc phân tích các sự kiện và hiện tượng cụ thể. Còn phương pháp lôgíc phải dựa trên các tài liệu lịch sử để khái quát và chứng minh và rốt cuộc phải đem lại lịch sử trong tính bản chất của nó. Lịch sử mà thiếu lôgíc sẽ mù quáng, còn lôgíc mà thiếu lịch sử thì không có đối tượng, dễ rơi vào chủ quan, tư biện.
 Để phát huy tính tích cực của cả người dạy và người học đối với môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (nay trong chương trình đào tạo đại học được gọi với tên mới là môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam). Đặc biệt để giữ vững tính độc lập tương đối của môn học so với các môn khoa học lịch sử nói chung. Trong quá trình truyền đạt nội dung môn học, bản thân người cán bộ giảng dạy phải hội đủ các phẩm chất và năng lực như:
 Thứ nhất, phái có lập trường, quan điểm, tư tưởng vững vàng, kiên định với đường lối của Đảng.
 Thứ hai, là có năng lực nắm bắt và thông hiểu các quy luật vận động của Triết học, Kinh tế chính trị học và các khoa học luận khác.
 Thứ ba, là có sự nhạy cảm về chính trị và thời cuộc để kểt hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn.
 Dạy học tích cực đối với môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là nhằm từng bước tạo ra hứng thú say mê học tập cho từng đối tượng sinh viên chỉ có thể là đổi mới phương pháp dạy học. Dưới góc độ tiếp cận ấy, bài viết này xin viện dẫn về cách lên lớp phần cách mạng XHCN trong chương trình môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cho sinh viên.
 Vận dụng vào giảng bài "Cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc 1954-1975"
 Trước hết cần phải nêu đầy đủ tình hình đặc điểm của miền Bắc khi bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH. Tính tất yếu của miền Bắc lên CNXH. Một ngoại lệ của lịch sử là cả nước chưa thống nhất nhưng Đảng ta vẫn quyết định đưa miền Bắc đi lên CNXH, trong khi trên thế giới chưa hề có một đất nước nào bắt đầu như thế. Quá trình lên lớp cần làm nổi bật vấn đề này. Từ đó để rút ra kết luận miền Bắc phải tiến lên CNXH, đó là một tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.
 - Về đường lối chung và đường lối kinh tế tại Đại hội III cũng như kế hoạch 5 năm 1961-1965 cần làm rõ những vấn đề sau:
 Nghị quyết Đại hội III của Đảng có giá trị như một Cương lĩnh trong gần hai thập kỷ. Vì thế khi phân tích đường lối cứ sa đà vào sự kiện lịch sử mà không đề cập tới lôgic của mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng. Điều cần làm rõ là vị trí của mỗi chiến lược cách mạng, trong đó cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc giữ vai trò "quyết định nhất" và cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò "quyết định trực tiếp". Đó là sự sáng tạo để làm tăng thêm giá trị khoa học, cách mạng và sáng tạo trong đường lối chỉ đạo của Đảng.
 - Về thành tựu, những sai lầm khuyết điểm của cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc (1954-1975) cần nêu rõ những hạn chế là tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí trong cải tạo XHCN, trong vấn đề hợp tác hoá... Nhưng cần phải tránh khuynh hướng lạm dụng quan điểm đổi mới của Đảng thổi phòng quá mức những sai lầm khuyết điểm để làm cho quần chúng mất lòng tin.
 - Điều quan trọng nhất là đánh giá như thế nào cho đúng về vai trò của công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc. Muốn vậy phải đặt trong hoàn cảnh 20 năm chiến tranh, xây dựng CNXH thời chiến. Đã là CNXH thời chiến thì vừa có những mặt tốt và có những mặt chưa tốt, thậm chí là cả những sai lầm, khuyết điểm và cả những nhận thức non nớt. Nhưng để có cái nhìn toàn diện thì nếu không có 20 năm xây dựng CNXH ở miền Bắc thì liệu chúng ta có thể giải phóng được miền Nam, thống nhất đất nước được hay không? Miền Bắc là hậu phương lớn của tiền tuyến lớn, là nơi chi viện sức người, sức của tối đa cho chiến trường. Đó là một thực tế khách quan. Là lôgíc để tạo nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.
 Vận dụng vào giảng bài "Cả nước quá độ lên CNXH và bảo vệ Tổ quốc 1975 - 1985"
 Thời kỳ 1976-1985, Đảng Cộng sản Việt Nam trãi qua hai kỳ đại hội. Những thành tựu và những sai lầm khuyết điểm cần được xem xét một cách nghiêm túc, khách quan và thực sự cầu thị. Đây là giai đoạn chúng ta đứng trước những khó khăn, thử thách. Đường lối của Đại hội IV chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của 20 năm xây dựng CNXH ở miền Bắc trước đó, trong khi bối cảnh lịch sử đã thay đổi. Những sai lầm về cải tạo XHCN, về hợp tác hoá, tập đoàn hoá ở miền Nam, các bước đi của CNH và những chỉ tiêu đề ra cho kế hoạch 5 năm (1976-1980) là không phù hợp với thực tiễn. Trong lúc đó mô hình của CNXH đang bộc lộ sự trì trệ, khủng hoảng và sụp đổ là điều không thể tránh khỏi.
 Những vấn đề tồn tại của Đại hội IV đến Đại hội V được Đảng ta điều chỉnh và cụ thể hoá về thời kỳ quá độ và xác định đúng vai trò của nông nghiệp. Vì vậy để có cái nhìn lịch sử đúng chúng ta cần phải làm rõ những sai lầm khuyết điểm cả về khách quan lẫn chủ quan. Đó là lôgíc của vấn đề, là sự dũng cảm dám nhìn thẳng vào sự thật, là duy ý chí, nóng vội, chủ quan và thiếu cơ sở khoa học.
 Vận dụng vào giảng bài "Cuộc cách mạng XHCN trong thời kỳ đổi mới đẩy mạnh CNH, HĐH 1986-2006"
 Trong suốt 20 năm đổi mới, Đảng ta đã trãi qua 5 kỳ đại hội (từ ĐH VI đến ĐH X), cùng với những biến động khôn lường của thế giới và trong nước. Đất nước đứng trước những thử thách nghiêm trọng, song chúng ta đã thành công. Để đạt được những thành tựu to lớn như hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam với bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên trì đổi mới theo định hướng XHCN. Giữ vững mô hình kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.    Kiên trì con đường đã chọn. Vững vàng trước những thử thách khó khăn. Để đạt được thành tựu đáng tự hào sau 20 năm đổi mới.
 Mô hình CNXH được phác thảo tại Cương lĩnh Đại hội VII (1991) qua các kỳ đại hội tiếp theo Đảng ta đã từng bước bổ sung, phát triển. Đến Đại hội X (2006), Đảng ta đã đưa ra được mô hình phù hợp thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta. Đây là phần trong khi lên lớp chúng ta phải nêu rõ cả về thành tựu và khuyết điểm, những nguy cơ và thời cơ lớn để có cái nhìn thông thoáng hơn. Cần làm rõ sự sáng tạo của Đảng khi vận dụng những thành tựu của các mô hình kinh tế khác nhau phục vụ tốt hơn mục tiêu của CNXH. Thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thế giới đánh giá cao song những mặt trái tồn tại không ít, nhiều "quốc nạn" đang làm xói mòn lòng tin. Để có một bài giảng tốt cần phải có bản lĩnh và niềm tin cùng với xử lý thuần thục các phương pháp. Ngần ấy thao tác, người giáo viên mới gọi là mãn nguyện cho một bài lên lớp.
 Tóm lại, đổi mới phương pháp giảng dạy Lịch sử Đảng từng phần quả là một công việc khó khăn. Nếu không xuất phát từ một lập trường kiên định, một cơ sở lý luận vững chắc, sẽ không tránh khỏi những thiên hướng khác nhau trong giáo dục và giáo dưỡng sinh viên, học viên. Cơ sở lý luận của phương pháp dạy học là thuần thục các phương pháp lên lớp và thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thực trạng dạy học Lịch Sử ở trường phổ thông hiện nay


Thực trạng dạy học Lịch Sử ở trường phổ thông hiện nay


 Võ Minh Tập - DHSP Tp. Hồ Chí Minh

1. Chương trình, sách giáo khoa:

Sách giáo khoa có vị trí rất quan trọng, ở đó có đầy đủ những kiến thức cơ bản, phổ biến nhất giúp học sinh vừa nắm những kiến thức cơ bản, hiện đại, vừa phát huy khả năng tự học, tự nghiên cứu, là phương tiện để học sinh tiếp thu kiến thức mới, ôn tập củng cố những kiến thức đã học, trả lời các câu hỏi, làm bài tập về nhà. Đồng thời sách giáo khoa cũng là chỗ dựa quan trọng, đáng tin cậy của giáo viên trong giảng dạy.
Hiện nay sách giáo khoa đã được đổi mới theo hướng giảm tải chương trình, đảm bảo tình khoa học, tính khả thi, và sự phân hóa giữa sách giáo khoa theo chương trình chuẩn và sách giáo khoa biên soạn theo chương trình nâng cao. Năm học 2006-2007 và 2007-2008, sách giáo khoa lớp 10 và lớp 11 được ban hành và áp dụng đại trà vào dạy học ở trường THPT trong cả nước. Đối với ban khoa học xã hội, học sinh được học nâng cao ở các môn: Văn, Sử, Địa và sách giáo khoa theo chương trình chuẩn các môn còn lại. Đối với ban khoa học tự nhiên, học sinh được học nâng cao ở các môn: Toán, Lí, Hóa và sách giáo khoa theo chương trình chuẩn các môn còn lại.Còn với ban cơ bản, học sinh được học theo chương trình chuẩn và tùy mỗi trường sẽ tự chọn trong số tám môn học có nội dung nâng cao hoặc tổ chức cho học sinh học bổ sung thêm những nội dung nâng cao từ chương trình chuẩn theo yêu cầu của học sinh.
Theo kế hoạch dạy học ở trường phổ thông, phân phối số tiết cho bộ môn Lịch Sử lớp 10 là 1,5 tiết/ tuần ( kể cả sách giáo khoa cơ bản và nâng cao), lớp 11 là 1,5 tiết/tuần, còn lớp 12 là 2 tiết/ tuần)
Sách giáo khoa Lịch Sử mới được trình bày đẹp hơn, in màu, dễ nhìn, đồng thời có lưu ý đến việc đảm bảo kiến thức cơ bản, hiện đại, sát thực tiễn Việt Nam. Hơn nữa, sách giáo khoa còn đảm bảo tính liên môn sao cho các môn học hỗ trợ lẫn nhau, đặc biệt sách giáo khoa Lịch Sử mới có nội dung lịch sử Việt Nam và thế giới, là một sự tiến bộ so với sách giáo khoa cũ. Đồng thời, trong khi sách giáo khoa cũ chỉ chú trọng đến kênh chữ, kênh hình rất ít và chỉ mang tính chất minh họa, thì sách giáo khoa mới đã khắc phục được hạn chế này.
Tuy nhiên nói như thế không có nghĩa là sách giáo khoa mới không có khiếm khuyết. Sách giáo khoa mới được soạn ra theo xu hướng tinh giảm chương trình, giảm tải gánh nặng cho các em, nhưng thực ra kiến thức lại quá nặng trong khi phân bố chương trình chỉ là 1,5 tiết/ tuần, nhưng lại phân theo chương chứ không phân theo bài, ví dụ như chương 1 phần lịch sử thế giới cận đại gồm ba bài: cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh, chiến tranh giành độc lập của thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ, và cách mạng tư sản Pháp và chỉ dạy trong bốn tiết, mà bài cách mạng tư sản Pháp quá dài bắt buộc phải dạy trong hai tiết, tức là hai bài còn lại mỗi bài một tiết, trong khi bài cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh lại nhiều kiến thức nếu dạy trong một tiết bắt buộc giáo viên phải “chạy” để đảm bảo chương trình. Vì vậy, bắt buộc phải có sự đổi mới ở cả giáo viên và học sinh, giáo viên phải có phương pháp dạy học mới và học sinh phải tích cực, chủ động chiếm lấy kiến thức. Nhưng trên thực tế, việc đổi mới phương pháp vẫn chưa được thực hiện một cách đồng bộ.

2. Thực trạng dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay:

“ Bộ môn Lịch Sử luôn giữ vị trí quan trọng trong chương trình đào tạo học sinh PTTH vì bộ môn Lịch Sử rất có ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Do nhận thức chưa đầy đủ hoặc phiến diện về vai trò, ý nghĩa, chức năng của bộ môn lịch sử, nhiều người thậm chí cả những nhà quản lí giáo dục giáo dục đã tỏ thái độ coi thường, không đối xử với bộ môn này như những môn khác. Nhiều nhà quản lí cho rằng, trong thời kì khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng, sử học cũng như các khoa học xã hội nhân văn khác không thể có vị trí ngang hàng với khoa học tự nhiên- kĩ thuật. Ở phương Tây đã có ý kiến về việc “khai tử khoa học lịch sử” và biến môn học này trong nhà trường thành việc kể chuyện lịch sử”[1:6]
Đặc biệt, kết quả của các kì thi tốt nghiệp, và thi tuyển sinh Đại học, số thí sinh đạt điểm môn Sử ở mức yêu cầu là rất thấp
Bảng thống kê tỷ lệ học sinh tốt nghiệp và đạt yêu cầu về bộ môn Lịch Sử trong 4 kì thi tốt nghiệp THPT tại TP.HM
Kì thi
(nămhọc)
Tổng số
thí sinh
Tỷ lệ
tốt nghiệp chung
Tỷ lệ đạt yêu cầu
môn lịch sử
1996-1997
26190
80,66%
84,7%
1997-1998
29205
69,34%
62,48%
1998-1999
32134
92,76%
80,3%
1999-2000
35939
89,3%
93,62%
Bảng thống kê tỷ lệ  bài thi đạt và không đạt yêu cầu môn Lịch Sử qua các kì thi TSĐH vào trường ĐHSP TP. HCM
Kì thi
(năm)
Tổng số
bài thi
Đạt yêu cầu
(từ 5 đến 10 điểm)
Không đạt yêu cầu
(từ 0 đến 4,5 điểm)
Số bài thi
Tỷ lệ
Số bài thi
Tỷ lệ
1995
2121
575
27,11%
1546
72,89%
1998
3186
500
15,69%
1686
84,3%
1999
5809
1585
27,29%
4224
72,71%
2000
11522
4425
38,4%
7097
61,6%
2005
8956
308
3,44%
8648
96,56%
2006
9241
613
6,63%
8628
93,37%

Điều đáng nói ở đây là những em chọn thi khối C tức là em đó có năng khiếu về các môn xã hội cũng như đã có sự chuẩn bị hơn một năm, một khoảng thời gian không phải dài nhưng cũng đủ để cho các em chuẩn bị kiến thức và tâm lí cho kì thi đại học này. Nhưng nguyên nhân lại rất thấp, vậy nguyên nhân là vì đâu.
Thứ nhất, do quan niệm xã hội không coi trọng các môn khối C, chỉ chú trọng các môn khoa học tự nhiên với câu nói cửa miệng “ chuột chạy cùng sào mới vào ban C”.
 Thứ hai, ở trường phổ thông thì môn Lịch Sử được coi là môn phụ, không được các nhà quản lí của trường phổ thông quan tâm chú ý. Thậm chí, nhà trường còn bố trí giáo viên không được đào tạo chuyên ngành để dạy môn Lịch Sử. Việc bố trí dạy học “ trái ngành”, “cưỡng ép” càng làm cho chất lượng dạy học môn Lịch Sử thêm tồi tệ và người ta càng có cớ để coi thường môn Sử[1:6]. Tuy bị coi là môn phụ nhưng tại các kì thi tốt nghiệp, môn Sử được coi là “cứu cánh”, “vớt vát” điểm cho các môn khác. Việc bị coi là môn phụ nên giáo viên dạy Sử cũng bị coi là giáo viên phụ, từ đó dẫn đến việc các em không yêu thích môn Sử, hoặc nếu có yêu thích thì cũng bị bố mẹ cấm cản, có thể học bất cứ môn nào cũng được nhưng không được học môn Sử. Do đó, dẫn đến sự việ một em thích môn Sử và đã thi đậu vào đội tuyển học sinh giỏi của trường nhưng bố mẹ lại làm đơn rút.
Thứ ba, xã hội cho rằng học Sử chỉ cần học thuộc, không cần tư duy, dẫn đến việc học sinh nhàm chán.
Thứ tư, đội ngũ giáo viên ở các trường phổ thông không được đảm bảo, vừa thiếu vừa yếu, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa. Hơn nữa, việc phải lo lắng về đời sống kinh tế khiến giáo viên không quan tâm, chuyên chú trau dồi chuyên môn nghiệp vụ.
Nhiều ý kiến cho rằng thực trạng môn Sử như hiện nay có một nguyên nhân bắt nguồn từ lối dạy đọc- chép, không đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên. Tuy nhiên tôi thấy nhiều tiết học diễn ra rất sôi nổi nhưng khi hỏi lại kiến thức cũ nhiều em không nhớ hoặc chỉ nhớ loáng thoáng, mà một trong những nguyên nhân là do học sinh không ôn lại bài cũ, không hệ thống kiến thức, không đặt các sự kiện vào cùng một tọa độ để so sánh, đối chiếu để nhận thức rõ hơn về vấn đề. Vì vậy một trong những nguyên nhân của thực trạng môn Sử hiện nay là ý thức học tập cũng như phương pháp học môn Sử của học sinhTầm quan trọng của dạy học liên môn trong dạy học Lịch Sử
Đối tượng nghiên cứu của khoa học Lịch Sử bao gồm nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, tư tưởng. Do đó, nghiên cứu, trình bày phải có kiến thức của tất cả các lĩnh vực.
Các khóa trình Lịch Sử ở trường phổ thông trình bày và cung cấp cho học sinh tiến trình lịch sử thế giơi và dân tộc trên tất cả các mặt. Vì vậy để hiểu rõ cũng như tránh nhận thức một cách rời rạc, tản mạn, thì việc chuẩn bị và vận dụng kiến thức liên ngành là rất cần thiết.
Trong dạy học nói chung và dạy học Lịch Sử nói riêng , nếu kết hợp trình bày miệng với sử dụng đồ dung trực quan, tài liệu tham khảo của các khoa học khác thì bài giảng sẽ hấp dẫn và hiệu quả hơn.
Thực hiện dạy học liên môn trong xây dựng chương trìng, sách giáo khoa, trong dạy học sẽ tránh sự trùng lắp. mất thời gian và tình trạng nặng nề, quá tải đối với học sinh.
Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học như ngày nay, làm sao vừa có thể đảm bảo chương trình, học sinh vừa hiểu bài, cùng với nó là tạo ra tính tích cực ở học sinh, thiết nghĩ dạy học liên môn là một trong những cách đảm bảo yêu cầu đó
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.          Ngô Minh Oanh- Nhữ Thị Phương Lan- Đào Thị Mộng Ngọc, 2006, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên cốt cán trường THPT, môn Lịch Sử
2.          Lê Vinh Quốc, 2007, Đề cương tóm tắt chuyên đề phương pháp dạy học lịh sử, ĐHSPTPHCM

Thấy gì qua cách dạy lịch sử ở Mỹ

Thấy gì qua cách dạy lịch sử ở Mỹ


Ở Mỹ khi học World History ( Lịch sử thế giới), đến chương chiến tranh thế giới thứ II,  thầy giáo lịch sử vào lớp đưa ra tên 8 nhân vật và 3 câu hỏi như sau:
I/- Tám nhân vật nổi tiếng là:

1/ Hitler.

2/ Josep Stalin.

3/ Nhật Hoàng.

4/ Franklin D. Roosevelt.

5/ Churchill

6/ Harry S. Truman  

7/ De Gaule  

8/ Mussolini 

II/-
Thầy giáo nêu 3 câu hỏi:

1/ Những người này có vai trò và quyết sách nào đúng, quyết sách nào sai trong chiến tranh thế giới thứ II?

2/ Nguyên nhân và kết quả của chiến tranh thế giới thứ II?

3/ Tổng thống  Harry S. Truman quyết định thả 2 quả bom nguyên tử tại hai hòn đảo ở Nhật đúng sai? Tại sao?

    Giáo viên cho mỗi em  làm một đề cương trả lời về một nhân vật lịch sử. Cả lớp chia làm 2 nhóm đối lập soạn thảo 2 câu hỏi 2 và 3 để trình bày và chia sẻ. Hai nhóm được chia làm 2 phe: Phát xit và Đồng minh để tranh luận.
1. Nhận xét của con BS Hồ Hải (HS học THPT tại Mỹ):
      Học sinh chúng con không cần nhớ ngày tháng năm gì cả, vì  thầy bảo cái đó có trong sách nếu cần thì mở ra đọc, cái cần cho tụi con biết là quan điểm và chính sách đúng sai của từng nhân vật lịch sử cũng như nguyên nhân tại sao có những quyết định đó?
    Con học được rất nhiều. Vì chỉ 1 chương mà biết hầu hết tư tưởng của 8 vị lãnh tụ có tham gia vào tạo ra chiến tranh thế giới thứ II và những yếu tố kinh tế thời ấy tạo ra.

      Nhờ đó mà kiến thức của mỗi đứa rất phong phú và đầy đủ các lĩnh vực chứ không chỉ gói gọn trong lịch sử. Mỗi lần làm project và presentation như vậy thì ôi thôi moi cả tàng kinh các kiến thức nhân loại về các sự kiện, nhân vật lịch sử. Thời gian chuẩn bị khoảng 1-2 tuần cho vấn đề, mỗi ngày đọc cũng từ 100 đến 200 trang tài liệu để thực hiện cho giờ học. Tụi con không bị áp đặt, không cần phải theo đúng như sách giáo khoa, miễn sao tụi con chứng minh có logic và trung thực, có tài liệu tham khảo rõ ràng là được điểm cao. Có những ý kiến mà sách giáo khoa không có, được lấy từ internet, thư viện... để làm tài liệu tham khảo. Nhưng bài  nào nếu viết lập luận logic và có vấn đề mới là bài đó được điểm cao."
      "Tụi con được học lịch sử theo kiểu đánh giá sự kiện, chứng minh đúng sai theo từng giai đoạn lịch sử có làm project và presentation để bảo vệ luận điểm chứ học không phải học thuộc bài theo sách giáo khoa. Vào giờ học lịch sử, ông thầy Giallombardo Scott của con vào đưa ra chủ đề, nhân vật lịch sử, phân công mỗi đứa làm một project và 1 presentation để trình bày trước lớp và trước thầy, thầy là người đánh giá sự vững chắc và tính logic của từng đứa mà cho điểm.
  2. Nhận xét của phụ huynh  (BS Hồ Hải):
       Tôi thấy cách học này không những làm cho trẻ con có được critical thinking tốt mà còn làm chúng say mê thích thú môn lịch sử nữa. Một người yêu nước chân chính không thể không yêu và nắm vững sử nước nhà. Có phải vì thế mà tụi Âu Mỹ nó có nhiều phát minh đem lại cho đời tốt hơn không? Và có phải vì thế mà tuy tụi nó không ép học sinh học như ta, nhưng lòng yêu nước của dân nó rất mãnh liệt và đúng chỗ, rạch ròi không?
 3.Nhận xét, ý kiến của thầy Trần Quốc Thường:
       Qua trao việc giới thiệu ngắn gọn cách dạy và nhận xét của học sinh trực tiếp học và một phụ huynh ở trên tôi thấy:
       Gv dạy học Lịch sử ở Mỹ họ cung cấp sự kiện, nhân vật rồi yêu cầu học sinh đánh giá, nhân vật sự kiện đã nêu. Họ dạy và học tinh giản, nắm kiến thức trọng tâm, phát huy tư duy tích cực, tự học của học sinh. Học sinh phải tham khảo nhiều nguồn tài liệu để bổ sung cho quan điểm của mình. Giáo viên không áp đặt, không bắt buộc ghi nhớ máy móc ngày tháng sự kiện mà tôn trọng học sinh, khích lệ, yêu cầu các em có chính kiến khi đánh giá nhân vật, sự kiện.  
      Thời gian làm việc trên lớp của GV rất ít, họ chỉ nêu vấn đề và hướng dẫn, tổ chức cho học sinh làm việc. Trong buổi học, tiết học các em học sinh phải nổ lực làm việc tích cực, tự giác huy động kiến thức đã có, tài liệu tham khảo để hoàn thành yêu cầu do giáo viên đặt ra. GV sáng tạo chia ra 2 phe khi thảo luận tổ nhóm làm tăng tính phản biện, bảo vệ quan điểm của mình, của phe mình.
       Cái "Trinh" của lịch sử là sự trung thực, khách quan khi nêu sự vật hiện tượng lịch sử và nhận xét đánh giá về nó. Vấn đề GV dạy lịch sử ở Mỹ nêu ra phản ánh khách quan, trung thực lịch sử, đúng tên gọi, đúng bản chất, hiện tượng, nhân vật lịch sử, không xuyên tạc, bóp méo lịch sử. Tuyệt đối không có Văn học minh hoạ cũng như Lịch sử minh hoạ cho chính trị. Ở ta hiện đã có một số nhân vật, sự kiện lịch sử đang có vấn đề, các nhà sử học cần công tâm, trung thực làm sáng tỏ. Nên giải quyết như thế nào về vấn đề này? Để lịch sử ngũ yên, hay cần làm rõ sự thực, trả lại bản chất cho sự vật hiện tượng lịch sử? ( Em bé đuốc sống Lê Văn Tám) hay tạm cất, sẽ đưa ra ở một thời  điểm thích hợp hơn? (Ngày mất của Hồ chủ tịch),...
        Kiểm tra đánh giá của giáo viên ở Mỹ đối với học sinh không phải là sự ghi nhớ, thuộc vẹt kiến thức mà là ở sự sáng tạo, tư duy tích cực ở người học. Ở ta thiếu câu hỏi nêu vấn đề, kích thích tư duy sáng tạo ở học sinh mà có quá nhiều câu hỏi tái hiện, ghi nhớ máy móc như: Ai giữ chức vụ  … ? Ai là … ? Sự kiện .... xẩy ra lúc nào, …? A thành lập ngày tháng năm nào? B sinh năm nào.. ?  Ai là chủ tịch ...? … Dạy lịch sử ở Mỹ phần kiến thức của các em, bài làm của các em có thể lấy ở ngoài sách giáo khoa, miễn là các em có lập luận lo gic, chặt chẽ, trung thực, có sức thuyết phục và có cái mới trong bài viết.
      GV tôn trọng chính kiến của cá thể từng học sinh, kích thích tư duy sáng tạo ở các em, dạy các em yêu lẽ phải, làm người hữu ích cho xã hội. Đây là cái chúng ta cần ở người học, là mục tiêu của dạy học. ( Xin xem bài Cách dạy văn hay của người Mỹ đăng trên Dan tri.com )        
       Nếu học cách dạy, cách học này của GV- học sinh ở Mỹ thì cả thầy và trò nước ta sẽ rất hứng thú khi dạy-học, hiệu quả sẽ cao hơn. Các em sẽ rất thích học môn lịch sử. Giáo viên cũng thoải mái, nhẹ nhàng, không vất vả như GV ta hiện nay lên lớp bộ môn này .
         Vài điều nhỏ về dạy và học lịch sử, tôi xin được  trao đổi, mong các GV bộ môn Lịch sử cùng suy nghĩ cùng trao đổi, tranh luận. Hy vọng trong các kì thi tương lai số điểm không, điểm yếu kém về môn lịch sử sẽ giảm xuống đáng kể.
                                                                                           Trần Quốc Thường